CPCS

Thông điệp

LIÊN KẾT

CPCS

Thống kê website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay32
mod_vvisit_counterHôm qua74
mod_vvisit_counterTrong tuần307
mod_vvisit_counterTuần trước368
mod_vvisit_counterTrong tháng762
mod_vvisit_counterTháng trước639
mod_vvisit_counterTất cả:47901
Một số quy định về Pháp luật về Dân số



Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước. Dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội. Việc đảm bảo dân số ổn định, phát triển bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng và mỗi thành viên trong xã hội là yêu cầu và mục tiêu đặt ra đối với mọi dân tộc, mọi đất nước.

Công tác dân số là gì:
Công tác dân số là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số.

Công dân có những quyền gì trong công tác dân số:
Công dân có các quyền sau đây:
1. Được cung cấp thông tin về dân số như kiến thức về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, bình đẳng giới, quyền và trách nhiệm của cá nhân trong việc thực hiện chính sách dân số...;
2. Được cung cấp các dịch vụ dân số có chất lượng, thuận tiện, an toàn (như phương tiện tránh thai, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kiểm tra sưc khẻo trươc khi kết hôn...) và được giữ bí mật theo quy định của pháp luật;
3. Lựa chọn các biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình và nâng cao chất lượng dân số;
4. Lựa chọn nơi cư trú phù hợp với quy định của pháp luật. 

Công dân có những nghĩa vụ gì trong công tác dân số:
1. Thực hiện kế hoạch hoá gia đình; xây dựng quy mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững;
2. Thực hiện các biện pháp phù hợp để nâng cao thể chất, trí tuệ, tinh thần của bản thân và các thành viên trong gia đình;
3. Tôn trọng lợi ích của Nhà nước, xã hội, cộng đồng trong việc điều chỉnh quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư, nâng cao chất lượng dân số;
4. Thực hiện các quy định của Pháp lệnh Dân số và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến công tác dân số. 

Những hành vi nào bị nghiêm cấm trong công tác dân số:
Pháp luật nghiêm cấm những hành vi sau:
1. Cản trở, cưỡng bức việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình như: đe doạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; xâm phạm thân thể người sử dụng biện pháp tránh thai; người sinh toàn con trai hoặc con gái; ép buộc mang thai, sinh nhiều con, sinh sớm...;
2. Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức như: xác định qua triệu chứng, bắt mạch, xét nghiệm, siêu âm, phá thai...;
3. Sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, cung cấp phương tiện tránh thai giả, không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, quá hạn sử dụng, chưa được phép lưu hành;
4. Di cư và cư trú trái pháp luật;
5. Tuyên truyền, phổ biến hoặc đưa ra những thông tin có nội dung trái với chính sách dân số, truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, có ảnh hưởng xấu đến công tác dân số và đời sống xã hội;
6. Nhân bản vô tính người. 

Nhà nước đã quy định những biện pháp gì để thực hiện công tác dân số:
1. Quy hoạch, kế hoạch phát triển dân số;
2. Xã hội hoá công tác dân số;
3. Huy động nguồn lực cho công tác dân số;
4. Thực hiện giáo dục dân số;
5. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số;
6. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân số;
7. Nghiên cứu khoa học về dân số. 

Cá nhân, các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gì trong việc thực hiện chính sách dân số:
1. Thực hiện mục tiêu chính sách dân số trên cơ sở chuẩn mực gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững;
2. Tạo điều kiện giúp đỡ cá nhân thực hiện mục tiêu chính sách dân số phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập, nuôi dạy con, phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và Nhà nước;
3. Thực hiện luật pháp, chính sách về dân số; quy chế, điều lệ hoặc các hình thức khác của cơ quan, tổ chức; quy ước, hương ước của cộng đồng. 

Mỗi cặp vợ chồng, cá nhân có quyền và nghĩa vụ gì trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình:
Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân không tách rời nhau trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Mỗi cặp vợ chồng, cá nhân có trách nhiệm thực hiện quyền và phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội:
1. Mỗi cặp vợ chồng, cá nhân có quyền sau:
a. Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với quy mô gia đình ít con, mục tiêu phát tiển kinh tế- xã hội và chính sách phát triển dân số trong từng giai đoạn; phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng;
b. Lựa chọn, sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp với điều kiện kinh tế, sức khoẻ, tâm lý và các điều kiện khác;
c. Được cung cấp thông tin và dịch vụ về kế hoạch hoá gia đình.
2. Mỗi cặp vợ chồng, cá nhân có nghĩa vụ sau:
a. Thực hiện quy mô gia đình ít con, có một hoặc hai con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững;
b. Sử dụng các biện pháp tránh thai, thực hiện kế hoạch hoá gia đình;
c. Bảo vệ sức khoẻ và thực hiện các biện pháp phòng, tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS;
d. Tôn trọng lợi ích của Nhà nước, xã hội, cộng đồng và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức trong việc kiểm soát sinh sản và điều chỉnh quy mô dân số.
đ. Thực hiện các quy định của pháp luật về dân số; các quy chế, điều lệ hoặc các hình thức khác của cơ quan, tổ chức; quy ước, hương ước của cộng đồng về dân số và kế hoạch hoá gia đình.
e. Thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình. 

Việc khiếu nại, tố cáo về công tác dân số được pháp luật quy định như thế nào:
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền trong việc thi hành chính sách và pháp luật về dân số;
2. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật về dân số;
3. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. 

Việc khen thưởng về thành tích trong công tác dân số được pháp luật quy định như thế nào:
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác dân số được khen thưởng theo quy định của pháp luật về khen thưởng.
2. Cơ quan và tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có biện pháp khuyến khích cá nhân, gia đình thực hiện tốt mục tiêu chính sách dân số bao gồm:
a. Xây dựng chính sách khuyến khích lợi ích vật chất trong các chính sách kinh tế - xã hội và chính sách bảo hiểm để thực hiện mục tiêu chính sách dân số.
b. Tổ chức các hình thức khuyến khích vật chất và tinh thần để động viên cá nhân, gia đình, tổ chức, cộng đồng thực hiện tốt mục tiêu chính sách dân số, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục và cung cấp dịch vụ dân số. 

Người có hành vi vi phạm pháp luật về công tác dân số sẽ bị xử lý như thế nào:
Người nào có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về công tác dân số thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật./.