CPCS

Thông điệp

LIÊN KẾT

CPCS

Thống kê website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay3
mod_vvisit_counterHôm qua21
mod_vvisit_counterTrong tuần24
mod_vvisit_counterTuần trước226
mod_vvisit_counterTrong tháng568
mod_vvisit_counterTháng trước775
mod_vvisit_counterTất cả:44436
Tin tức
Năm đối tượng được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh kể từ ngày 01/12/2018
Từ hôm nay (1/12/2018), Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT có hiệu lực với khá nhiều điểm mới nhằm bảo đảm tính công bằng trong chính sách BHYT, không bỏ sót đối tượng nào, góp phần tăng nhanh tỷ lệ tiến tới BHYT toàn dân.
 

Thông tin tại chương trình giao lưu trực tuyến “Những điểm mới trong chính sách BHYT từ tháng 12-2018” do BHXH Việt Nam, Bộ Y tế và Báo Nhân dân cùng phối hợp thực hiện, TS Lê Văn Khảm- Vụ trưởng Vụ BHYT , Bộ Y tế cho biết, Nghị định 146 có khá nhiều điểm mới nhằm bảo đảm tính công bằng trong chính sách BHYT, không bỏ sót đối tượng nào, góp phần tăng nhanh tỷ lệ tiến tới BHYT toàn dân.

 

Nghị định 146 bổ sung một số đối tượng tham gia; quy định tham gia theo hộ gia đình không bắt buộc tham gia cùng thời điểm; quy định chi tiết hồ sơ, điều kiện, nội dung và mẫu hợp đồng KCB BHYT; bỏ quy định giao quỹ khám chữa bệnh (KCB) BHYT cho cơ sở KCB (kể cả trạm y tế xã), thay vào đó là giao tổng mức thanh toán đối với các cơ sở y tế; sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể về thanh toán chi phí KCB; bổ sung quy định mới về công nghệ thông tin trong quản lý KCB BHYT...

 

5-doi-tuong-nao-duoc-bhyt-thanh-toan-100-chi-phi-kham-chua-benh-1

Từ hôm nay, Nghị định 146 có hiệu lực với nhiều điểm mới về chính sách BHYT

 

Người đang tham gia BHYT mà thẻ hết hạn sử dụng vẫn được hưởng BHYT trong KCB tại các cơ sở đó tối đa là 15 ngày

 

TS Lê Văn Khảm cho hay, Nghị định 146 có bổ sung và điều chỉnh một số trường hợp, như: Trường hợp người bệnh được cơ sở  KCB tuyến trên chẩn đoán và phương thức điều trị được chuyển về theo dõi quản lý, cấp phát thuốc được BHYT chi trả.

 

Trường hợp thứ hai, có lợi cho cả bệnh nhân và cơ sở KCB, đó là trong trường hợp cơ sở KCB chỉ cần chuyển mẫu bệnh phẩm, hoặc chuyển người bệnh lên tuyến trên đến cơ sở KCB khác xét nghiệm hoặc chụp X quang hay phục hồi chức năng thì cũng được bảo hiểm chi trả thay vì trước đây, mỗi lần chuyển cơ sở KCB, vì trường hợp bất khả kháng, người bệnh phải làm lại các xét nghiệm gây tốn kém không cần thiết cho người bệnh, giờ đây chỉ cần chuyển mẫu bệnh phẩm đi và vẫn được bảo hiểm chi trả.

 

Một điểm nữa liên quan đến quyền lợi của người thuộc diện BHYT đó là, người đang tham gia BHYT mà thẻ hết hạn sử dụng thì vẫn được hưởng BHYT trong KCB tại các cơ sở đó, trong tối đa là 15 ngày từ khi hạn BHYT hết hạn. Điều quan trọng, trong 15 ngày đó, cơ quan BHXH sẽ có trách nhiệm thực hiện cấp, gia hạn thẻ BHYT cho người bệnh trong thời gian bệnh nhân điều trị nội trú.

 

Nghị định quy định quyền lợi của người đi nước ngoài lao động, trước khi đi đã tham gia BHYT, sau khi về nước, nếu tham gia BHYT trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhập cảnh cũng được tính tham gia BHYT liên tục.

 

Hay đối tượng trong lực lượng vũ trang, cơ yếu khi nghỉ hưu hoặc chuyển ngành nếu có thời gian công tác trong quân đội, công an nhân dân hoặc tổ chức cơ yếu chưa tham gia BHYT thì cũng được tính tham gia BHYT liên tục khi chuyển ngành; và có những đối tượng được cơ quan nhà nước cử đi công tác, học tập ở nước ngoài có thân nhân (phu nhân, phu quân, con đẻ) đi theo cũng được tính tham gia BHYT liên tục.

 

5 đối tượng được hưởng 100% chi phí KCB



Cũng theo TS Lê Văn Khảm, Nghị định 146 quy định có 5 đối tượng được hưởng 100% chi phí KCB BHYT gồm:



Thứ nhất: Hỗ trợ 100% chi phí KCB với các đối tượng gồm người có công với cách mạng; cựu chiến binh; người được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng; người thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn; thân nhân của người có công với cách mạng; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.



Thứ hai: Hỗ trợ 100% chi phí KCB và không áp dụng giới hạn tỷ lệ thanh toán thuốc, hóa chất, vật tư y tế và dịch vụ kỹ thuật đối với người hoạt động cách mạng trước năm 1945, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, trẻ em dưới 6 tuổi.



Thứ ba: Hỗ trợ 100% chi phí KCB tại tuyến xã.



Thứ tư: Hỗ trợ 100% chi phí KCB đối với các trường hợp chi phí cho một lần KCB thấp hơn 15% lương cơ sở



Thứ năm: Hỗ trợ 100% chi phí KCB khi người bệnh tham gia BHYT 05 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí KCB trong năm lớn hơn 06 tháng lương cơ sở, trừ khi tự đi KCB không đúng tuyến..

 

Không bắt buộc toàn bộ thành viên hộ gia đình phải tham gia BHYT cùng một thời điểm

 

Một  điểm mới của Nghị định 146 là sẽ không bắt buộc toàn bộ thành viên hộ gia đình phải tham gia BHYT cùng một thời điểm; thực hiện giảm trừ mức đóng khi thành viên thứ 2 tham gia trong năm tài chính. Quy định này thuận lợi cho người tham gia BHYT theo hộ gia đình, góp phần mở rộng đối tượng BHYT.

 

Đặc biệt, quy định về đi khám chữa bệnh không đúng tuyến trong nghị định cũng nêu rõ, với bệnh nhân đi khám chữa bệnh không đúng tuyến BHYT, dù được sơ sở nơi tiếp nhận chuyển tuyến đến cơ sở khám chữa bệnh khác, quỹ BHYT thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo như đi trái tuyến.

 

Riêng với các trường hợp cấp cứu đang điều trị nội trú được phát hiện bệnh khác ngoài phạm vi chuyên môn của cơ sở khám chữa bệnh tình trạng bệnh diễn biến vượt quá khả năng chuyên môn của cơ sở khám chữa bệnh... sẽ được BHYT thanh toán đầy đủ.

 

Mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho một số đối tượng tham gia BHYT

 

Nghị định 146 cũng quy định rõ mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho một số đối tượng tham gia BHYT. Theo đó, từ ngày 1/12/2018, mức hỗ trợ đóng BHYT từ ngân sách nhà nước cho một số đối tượng như sau: Hỗ trợ toàn bộ mức đóng BHYT đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo đang sinh sống tại các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ.

 

Hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng BHYT đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo theo tiêu chí chuẩn cận nghèo theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; người thuộc hộ gia đình nghèo đa chiều không thuộc trường hợp người thuộc hộ gia đình nghèo theo tiêu chí về thu nhập, người thuộc hộ nghèo đa chiều có thiếu hụt về BHYT quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

 

Hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng BHYT đối với học sinh, sinh viên; người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ…

 

 

Nguồn: https://suckhoedoisong.vn

 
Tảo hôn, hôn nhân cận huyết là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng dân số

Nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết vẫn đang là một thực trạng đáng phải suy ngẫm hiện nay. Vấn đề này diễn ra chủ yếu tại các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới và một số ít các khu vực đô thị.

Nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết vẫn đang là một thực trạng đáng phải suy ngẫm hiện nay. Vấn đề này diễn ra chủ yếu tại các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới và một số ít các khu vực đô thị. Tảo hôn không chỉ là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà còn để lại những hệ luỵ khó lường về mặt xã hội.

Mặc dù luật pháp về hôn nhân và gia đình đã quy định tuổi kết hôn ở phụ nữ là đủ tròn 18 và nam giới là đủ tròn 20, nhưng theo thống kê gần đây nhất, 11% phụ nữ tuổi từ 20 đến 49 đã kết hôn hoặc đã sống chung như vợ chồng trước tuổi 18.

Trung du miền núi phía Bắc là các tỉnh có tỷ lệ tảo hôn cao hơn so với các vùng khác trong cả nước. Trong độ tuổi từ 10 - 17 tuổi, cứ 10 em trai thì có 01 em có vợ, 05 em gái thì 01 em có chồng. Các tỉnh có tỷ lệ tảo hôn cao là Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, trong đó tỉnh Lai Châu có tỷ lệ tảo hôn cao nhất là 18,6%. Tảo hôn đã làm hạn chế cơ hội học tập của trẻ em gái, làm các em mất đi các cơ hội được đào tạo và tìm được công việc làm ổn định. Tảo hôn cũng khiến các trẻ em gái dễ mang thai sớm khi cơ thể chưa phát triển toàn diện, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển tinh thần và thể chất của các em.

6

Bên cạnh đó, tảo hôn còn tác động trực tiếp đến các vấn đề kinh tế - xã hội khác tạo thành một vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số. Theo ý kiến của đại biểu Bùi Sỹ Lợi, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa, tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là nguyên nhân sâu xa làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số.Phóng viên: Thưa đại biểu, hiện nạn tảo hôn vẫn diễn ra khá nhiều, đặc biệt ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Đại biểu có đánh giá như thế nào về thực trạng này?

Đại biểu Bùi Sỹ Lợi, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa: Hiện nay, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã đạt được mục tiêu thực hiện mức sinh thay thế. Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số không đồng đều giữa các vùng miền và chất lượng dân số vẫn còn thấp. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là vấn đề tảo hôn, kết hôn cận huyết thống vẫn diễn ra phổ biến ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người. Điều này gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng về mặt xã hội. Cụ thể: Một là, trẻ em gái chưa đủ tuổi, chưa đủ điều kiện để sinh con nhưng do kết hôn sớm đã phải sinh con dẫn đến nguy cơ thoái hóa nòi giống cao, chất lượng dân số bị suy giảm. Thứ hai, vấn đề đáng quan tâm hơn đó là kết hôn cận huyết thống tức là trong dòng họ gia đình cùng dòng máu nhưng vẫn kết hôn thì đó là nguyên nhân dẫn đến chất lượng dân số của chúng ta thấp đi cho nên đây là vấn đề đáng báo động. Tăng dân số đáp ứng yêu cầu mức sinh thay thế nhưng chất lượng dân số là vấn đề rất quan trọng.

Vì vậy, Hội nghị Trung ương 5 đã ra Nghị quyết về phát triển dân số trong tình hình mới với mục tiêu thay đổi cơ cấu tăng trưởng dân số ở các vùng miền đồng đều để đảm bảo mức sinh thay thế nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu về dân số bình quân của các vùng miền. Chúng ta ưu tiên cho dân tộc thiểu số, dân tộc ít người được tăng dân số để duy trì nòi giống tuy nhiên vấn đề quan trọng là làm sao chất lượng dân số được nâng lên, tránh được tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết. Đây là nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng dân số.

Phóng viên: Nạn tảo hôn vẫn diễn ra đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Theo đại biểu, đâu là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này

Đại biểu Bùi Sỹ Lợi, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa: Vấn đề tảo hôn do một số nguyên nhân cả chủ quan và khách quan nhưng có lẽ nguyên nhân cơ bản vẫn là do phong tục tập quán và tâm lý về mặt cơ cấu con cái như; trọng nam khinh nữ... Phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số tồn tại và ăn sâu trong nhận thức của người dân từ nhiều đời nay và ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ trong đời sống, sinh hoạt của phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số.

4

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán; việc lấy vợ, lấy chồng mà chỉ cần sự đồng ý của những người đứng đầu trong làng hoặc của cha mẹ hai bên nam nữ và sự chứng kiến của gia đình, họ hàng, làng xóm. Quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy; hay những tục lệ như tục lệ bắt vợ, tục “nối dây”, cưỡng ép hôn nhân vẫn còn tồn tại. Một nguyên nhân cơ bản khác nữa là do vùng đồng bào dân tộc thiểu số trình độ dân trí thấp. Nhận thức và ý thức pháp luật của người dân nơi đây, nhất là đối với nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế đã tác động làm gia tăng tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết.

Phóng viên: Thưa đại biểu, để hạn chế nạn tảo hôn cũng như hôn nhân cận huyết thì cần có những giải pháp căn cơ như thế nào?

Đại biểu Bùi Sỹ Lợi, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa: Nhận thức được hậu quả của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách tiến hành vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện chiến lược nâng cao sức khỏe, tầm vóc người Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 498/QĐ-TTg phê duyệt đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025.

Tuy nhiên, song song với việc thực hiện Đề án, cũng cần phải chú trọng một số giải pháp như: Một là, phải ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, phát triển giao thông vận tải; các điều kiện cơ sở hạ tầng để làm chuyển biến đời sống, phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bởi phát triển kinh tế - xã hội chính là điều kiện để phát triển văn hóa, giáo dục. Hai là, phải làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục về dân số kế hoạch hóa gia đình để nâng cao nhận thức người dân; vùng sâu vùng xa cần phải có y tế thôn bản để sinh con trong điều kiện an toàn, có hướng dẫn tư vấn về kế hoạch hóa gia đình, ... Thứ ba, phải tăng cường vai trò lãnh đạo quản lý tư của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị xã hội phải vào cuộc để tuyên truyền tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức. Thứ tư, không câu nệ việc hướng dẫn kiến thức giới tính sớm cho trẻ em. Cần có kế hoạch giảng dạy cho học sinh tiếp cận về kiến thức giới tính, dân số, kế hoạch hóa gia đình phù hợp với lứa tuổi để chuyển biến nhận thức ngay từ nhỏ. Đây là vấn đề xã hội phải chuyển biến nhận thức từng bước và chú trọng tăng cường đầu tư về nguồn lực.

 

Nguồn: Giadinh.net.vn

 
Vì sao bệnh đột quỵ ở người cao tuổi gia tăng khi thời tiết chuyển lạnh?

Thời tiết chuyển lạnh, nguy cơ bị đột quỵ cao hơn nhất là ở những người cao tuổi, người mắc các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp…

Bệnh có xu hướng tăng trong mùa lạnh

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, sự thay đổi thời tiết thường xuyên sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe nếu cơ thể con người không kịp thích nghi, nhất là ở 

người cao tuổi

. Đặc biệt là khi thời tiết trở lạnh, nếu hệ thống mạch máu của cơ thể không khỏe mạnh, bền bỉ thì nguy cơ 

đột quỵ não

 sẽ gia tăng.

 

Trên thực tế, theo thống kê tại các bệnh viện, nhất là tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương, Bệnh viện Bạch Mai, vào thời điểm giao mùa từ thu sang đông, lượng bệnh nhân đột quỵ não tăng khoảng 10-15% so với ngày thường. Đa phần các trường hợp bị đột quỵ được đưa vào cấp cứu trong tình trạng nặng hoặc không được sơ cứu đúng cách khiến bệnh có nhiều biến chứng, thậm chí ngừng tim trước khi vào viện.


Các chuyên gia khuyến cáo, bệnh đột quỵ não có xu hướng gia tăng trong mùa lạnh. Ảnh minh họa

Các chuyên gia khuyến cáo, bệnh đột quỵ não có xu hướng gia tăng trong mùa lạnh. Ảnh minh họa

Lý giải về vấn đề này, PGS.TS Lê Bạch Mai, nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, thời tiết thay đổi đột ngột là yếu tố thuận lợi để bộc lộ những mầm bệnh, nguy cơ đã có trong mỗi cá thể có từ trước. Bởi thời tiết đang mát chuyển nóng, hoặc nóng chuyển sang lạnh dễ làm cho sự thay đổi trong cơ thể, nhất là những người cao tuổi không thích nghi kịp.

Nếu như mạch máu đã bị chít hẹp bởi những mảng vữa xơ, cục huyết khối rồi nay lại bị chít hẹp hơn do gặp lạnh co thắt lại làm những động mạch đưa máu lên não bị tắc nghẽn, não sẽ bị thiếu chất dinh dưỡng và ôxy. Từ đó dẫn tới đột quỵ do 

nhồi máu não

.

 

Đồng quan điểm trên, PGS.TS Hồ Thị Kim Thanh, Trưởng Khoa Nội tiết – Cơ xương khớp (Bệnh viện Lão khoa Trung ương) cho biết, khi thời tiết thay đổi, nhất là khi chuyển lạnh thì số lượng bệnh nhân nhập viện vì đột quỵ cũng tăng lên. Bởi lẽ, bệnh lý mạch máu não cũng liên quan nhiều đến yếu tố thời tiết.

Bình thường mạch của chúng ta co giãn rất nhịp nhàng nhưng ở người lớn tuổi thì vỡ xơ mạch đã làm cho thành mạch cứng hơn, khả năng điều hòa kém. Bên cạnh đó, yếu tố nguy cơ dễ dẫn tới đột quỵ như bệnh lý tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn nhịp tim… khi đổi mùa như vậy cũng làm cho tỷ lệ bệnh tăng lên, nguy cơ đột quỵ nhiều hơn”, PGS.TS Kim Thanh cho hay.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Hồ Thị Kim Thanh, nói thế không có nghĩa là cứ lạnh, cứ giao mùa là bệnh đột quỵ tăng lên rõ rệt. Để làm rõ xem bệnh đột quỵ có theo mùa hay không, bà cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu, theo dõi trong suốt 12 tháng. Kết quả cho thấy, bệnh có xu hướng tăng nhưng không phải quá cao theo mùa. Yếu tố thời tiết chỉ là một phần, ngoài ra, còn rất nhiều nguy cơ khác có liên quan đến bệnh đột quỵ.

Dấu hiệu cảnh báo bệnh đột quỵ

Theo các chuyên gia, đột quỵ não là chứng bệnh phần lớn gặp ở người cao tuổi. Có hai trường hợp nặng là nhồi máu não và 

chảy máu não

(xuất huyết não).

 

Đối với trường hợp nhồi máu não, dấu hiệu thường báo trước từ 30 phút đến 1 ngày. Người bệnh cảm thấy choáng váng, khó chịu. Có những trường hợp chỉ nói líu nhíu, nhức đầu, nhà cửa chao đảo…

 

Khi xảy ra ngay lập tức, nửa người sẽ bị yếu, bị tê, giảm vận động hoặc mất vận động ở một nửa người. Khi đưa đến cơ sở y tế sẽ phát hiện người đó bị tổn thương nửa người ở một bên. Điều đó cho thấy nửa bán cầu đối diện cũng bị tổn thương.

Thể nhồi máu não đã có nhiều kỹ thuật để giải quyết. Nếu bệnh nhân được đưa đến trong vòng 3 tiếng đồng hồ khi bị tắc mạch máu não do nhồi máu não đã có những thuốc để làm tiêu các cục máu gọi là phương thuốc tiêu sợi huyết. Nếu sớm, đúng, nhanh thì chỉ sau hai hoặc 3 ngày là bệnh nhân gần như bình phục. Rất nhiều trường hợp được cứu như vậy.

Thứ hai là trường hợp đột quỵ do chảy máu não thường gặp ở những người có những vấn đề như tăng huyết áp, đái tháo đường… Đó là khi có những thay đổi về thời tiết, sức khỏe, thì ngay lập tức bị ngã xuống, mất ý thức, nửa người bán thân bất toại. Người bệnh có thể đi vào bất tỉnh, hôn mê.

Chảy máu não thường ở người lớn tuổi, mạch máu bị vỡ xơ, có tăng huyết áp không được điều trị. Khi xảy ra thì mạch máu vỡ ra, ngay lập tức bệnh nhân hôn mê bất tỉnh, tỷ lệ 25 – 30%. Đây là những trường hợp cực kỳ nặng, khả năng phục hồi cũng không cao.

N.Mai – P.Thuận

 
Nhiều thách thức trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số năm 2011, với tỷ lệ người cao tuổi trên 60 tuổi chiếm 10% dân số. Việt Nam hiện có hơn 10 triệu người cao tuổi, dự báo đến năm 2030, sẽ có gần 19 triệu và năm 2050 là hơn 28 triệu người. Theo các nhà nhân khẩu học, sự chuyển đổi nhân khẩu học lớn lao này mang đến nhiều cơ hội và cũng nhiều thách thức cho Việt Nam.


Khám sức khỏe và cấp thuốc miễn phí cho NCT thuộc gia đình chính sách tại Hà Nội. Ảnh: Dương Ngọc

Khám sức khỏe và cấp thuốc miễn phí cho NCT thuộc gia đình chính sách tại Hà Nội. Ảnh: Dương Ngọc

Già hóa vừa là thành tựu vừa là thách thức

Theo PGS.TS Phạm Lê Tuấn - Thứ trưởng Bộ Y tế, tốc độ già hóa dân số của Việt Nam được các nhà khoa học trong nước và quốc tế dự báo thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Việt Nam chỉ mất khoảng 20-22 năm để chuyển từ giai đoạn già hóa dân số sang giai đoạn dân số già. Vì thế, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi (NCT).

“Sự chuyển đổi nhân khẩu lớn lao này mang đến những cơ hội và cả những thách thức lớn, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia và từng địa phương, tới mọi cộng đồng và mỗi gia đình, đòi hỏi hệ thống chăm sóc xã hội và chăm sóc sức khỏe cần có sự điều chỉnh, thích nghi phù hợp” - Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn nhận định.

Với đời sống kinh tế - xã hội và hệ thống y tế phát triển, tuổi thọ của người Việt Nam đã tăng cao, với mức trung bình là 75,6 tuổi, đứng thứ 2 trong khu vực và đứng thứ 56 trên thế giới. Tuy nhiên, gánh nặng bệnh tật của người Việt cũng lớn, thời gian đau ốm trong cả cuộc đời khoảng 15,3 năm. Hiện nay, chúng ta đang phải đối diện với gánh nặng bệnh tật kép, trung bình 1 NCT Việt Nam mắc 3 bệnh với khoảng 95% NCT có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền. Trong khi đó, hệ thống chăm sóc sức khỏe NCT chưa đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của NCT.

Thực tế cho thấy, hệ thống cơ sở chăm sóc sức khỏe NCT bước đầu được hình thành và phát triển từ Trung ương cho tới địa phương. Nhiều mô hình chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng được nhân rộng. Tuy nhiên, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho NCT hiện vẫn chưa bắt kịp với sự chuyển đổi nhân khẩu học mạnh mẽ này. Hiện cả nước chỉ có 49/63 bệnh viện tỉnh, thành phố có khoa Lão, 3 cơ sở đào tạo bộ môn Lão khoa. Khoa Lão vừa điều trị bệnh, vừa điều trị phục hồi chức năng cho NCT nên không chỉ cần thuốc men, trang thiết bị y tế mà cả chế độ dinh dưỡng, luyện tập cũng phải được lưu ý.

Bên cạnh những khó khăn trong chăm sóc sức khỏe thì một khó khăn lớn nhất có thể thấy được là đời sống vật chất của NCT Việt Nam còn thấp. Có tới 68% NCT Việt Nam chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp. 72,3% số NCT sống cùng với con cháu, trong khi xu hướng quy mô gia đình Việt Nam đang chuyển dần từ gia đình truyền thống sang gia đình hạt nhân. Tình trạng NCT sống không có vợ/chồng chiếm tỷ lệ cao, số cụ bà cô đơn cao gấp 5,44 lần so với cụ ông; phụ nữ cao tuổi sống ly hôn, ly thân gấp 2,2 lần so với nam giới. Với sức khỏe của NCT còn nhiều hạn chế thì việc phải sống một mình là một điều rất bất lợi với NCT, bởi gia đình luôn là chỗ dựa cơ bản cho mỗi thành viên khi về già.

Cần xây dựng chính sách đồng bộ, thích ứng

Nhiều quan điểm cho rằng “già hóa” dân số sẽ là gánh nặng cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, các nhà xã hội học và chuyên gia dân số cho rằng đây là một quan điểm sai lầm mà chúng ta phải thay đổi hoàn toàn: Phải coi già hóa dân số là thành tựu xã hội to lớn của loài người và các quốc gia. Hiện nay, có một bộ phận NCT khỏe mạnh là nguồn nhân lực quý giá mà ta chưa biết cách sử dụng đến. Nếu được hỗ trợ một cách phù hợp thì NCT có thể tiếp tục đóng góp to lớn cho gia đình, cộng đồng và quốc gia.

Tại Hội thảo "Nâng cao nhận thức về già hóa và nhu cầu chăm sóc NCT" do Viện Nghiên cứu Y - Xã hội học (ISMS) tổ chức, bà Phạm Tuyết Nhung, Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam đưa ra quan điểm: Cần chuyển quan niệm nhận thức “NCT là gánh nặng” thành “NCT là tài sản” thì mới có những chính sách, chương trình phù hợp với nhu cầu được chăm sóc và mong muốn phát huy vai trò của NCT. Còn theo PGS Giang Thanh Long, Viện trưởng Viện Chính sách Công và Quản lý thì vấn đề đặt ra là phải tìm ra các giải pháp để phát huy sức mạnh của cả cộng đồng trong việc chăm sóc NCT, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc NCT ở nước ta. Còn theo bà Lê Minh Giang, cần đưa ra nhiều đề xuất trong đó cần tăng cường các dịch vụ chăm sóc sức khỏe NCT cả ở cộng đồng, ở nhà với chăm sóc tại các cơ sở của nhà nước và tư nhân; đặc biệt xây dựng và phát triển hệ thống người làm công tác xã hội, các nhà cung cấp dịch vụ lão khoa... dựa trên nhu cầu của từng địa phương.

Các ý kiến của các chuyên gia và các nhà nghiên cứu chính sách đều cho rằng, việc xây dựng chính sách, chiến lược chăm sóc NCT mục đích cuối cùng phải đạt 3 tiêu chí: Tỷ lệ tàn tật và ốm đau NCT xuống thấp, các hoạt động chân tay và trí óc của NCT được phát huy để tăng trưởng kinh tế và NCT được tích cực tham gia các hoạt động xã hội để xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ. Để đạt được mục tiêu trên, các chính sách cần đồng bộ, nhanh chóng để ứng phó và thích ứng kịp với một xã hội già hóa.

 

“Bệnh tật ở NCT chủ yếu là không lây nhiễm và mạn tính, khiến cho chi phí chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng cao. Bên cạnh đó, NCT còn có những yêu cầu về chăm sóc sức khỏe khác biệt và đặc thù hơn nhiều so với nhóm dân cư khác”, Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn nhận định. Do đó, Thứ trưởng cũng nhấn mạnh: “Bệnh viện Lão khoa cần tiếp tục phát huy vai trò là bệnh viện chuyên khoa hàng đầu về Lão khoa, là tuyến cao nhất trong hệ thống thăm khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe cho NCT tại Việt Nam để cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật cho các địa phương trong cả nước”.

Nguồn: Giadinh.net.vn

Những con số về NCT ở Việt Nam

70% NCT không có tích lũy vật chất; 62,3% sống khó khăn, thiếu thốn; 27,6% cho rằng kinh tế đang kém đi; 18% sống trong hộ nghèo (tuổi càng cao càng nghèo); hơn 30% sống trong nhà kiên cố; gần 10% sống trong nhà tạm; 35% cảm thấy thất vọng; 33% không biết chia sẻ vui, buồn cùng ai; 22% cảm thấy rất cô đơn.

(Nguồn: Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam)

Đề án Chăm sóc sức khỏe NCT giai đoạn 2017 - 2025 đã được Bộ Y tế ban hành từ ngày 30/12/2016 trên toàn quốc, gồm 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong đó, ưu tiên các tỉnh, thành phố có tỷ lệ cao về NCT, các tỉnh vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, có tỷ lệ cao NCT gặp khó khăn, dân tộc thiểu số.

 

 
Tọa đàm trực tuyến: Các mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hiện nay

Hiện nay ở Việt Nam các mô hình chăm sóc sức khỏe và phát huy vai trò của người cao tuổi đang dần trở nên phong phú, trong đó phải kể đến các nhà dưỡng lão và các câu lạc bộ mang tính chất cộng đồng. Báo điện tử Gia đình và Xã hội (giadinh.net.vn) trân trọng kính mời Quý bạn đọc theo dõi tọa đàm dưới đây để nghe các chuyên gia chia sẻ về lợi ích thiết thực của các mô hình này.

 
 
Current Time0:05
/
Duration54:30
 
 
 
 
 
 
Auto
 
 

Báo Gia đình & Xã hộ